Xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

xac-dinh-hanh-vi-xam-pham-quyen-so-huu-tri-tue

Hiện nay, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) diễn ra ngày càng phức tạp với nhiều phương thức tinh vi, gây khó khăn lớn cho công tác bảo vệ quyền SHTT. Các tranh chấp liên quan đến SHTT thường kéo dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người bị xâm hại. Vậy, pháp luật quy định như thế nào về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ?

Các đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Theo quy định tại Điều 3 Luật SHTT, quyền SHTT được bảo hộ trên ba nhóm đối tượng chính:

  • Quyền tác giả và quyền liên quan: Bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; quyền liên quan đến biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng.
  • Quyền sở hữu công nghiệp: Bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh và tên thương mại.
  • Quyền đối với giống cây trồng: Gồm giống cây trồng và vật liệu nhân giống.

Căn cứ xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Để xác định một hành vi có bị coi là xâm phạm quyền SHTT hay không, cần căn cứ vào 4 tiêu chí sau:

  1. Đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 105/2006/NĐ-CP thì: “Đối tượng bị xem xét” là đối tượng bị nghi ngờ và bị xem xét nhằm đưa ra kết luận đó có phải là đối tượng xâm phạm hay không? Các đối tượng đang được bảo hộ được quy định tại Điều 6 của nghị định này và Điều 6 của Luật Sở hữu trí tuệ
  2. Có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét. Yếu tố xâm phạm ở đây được hiểu là yếu tố xuất hiện khi có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Các yếu tố xâm phạm được quy định cụ thể tại nghị định này từ Điều 7 đến Điều 14 tại Nghị định 105/2006/NĐ-CP và Nghị định 119/2010 ND-CP sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định 105/2006/ND-CP như sau:
    • Điều 7. Yếu tố xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan
    • Điều 8. Yếu tố xâm phạm quyền sở hữu đối với sáng chế
    • Điều 9. Yếu tố xâm phạm quyền đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn
    • Điều 10. Yếu tố xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp
    • Điều 11. Yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu
    • Điều 12. Yếu tố xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý
    • Điều 13. Yếu tố xâm phạm quyền đối với tên thương mại
    • Điều 14. Yếu tố xâm phạm quyền đối với giống cây trồng 
  1. Người thực hiện hành vi không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và không được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép. Điều này có nghĩa là người thực hiện hành vi không phải là chủ sở hữu quyền SHTT và cũng không được phép sử dụng đối tượng SHTT đó theo các quy định tại Điều 25, 26, 32, 33, khoản 2 và khoản 3 Điều 125, Điều 133, Điều 134, khoản 2 Điều 137, các Điều 145, 190 và 195 của Luật Sở hữu trí tuệ.
  2. Hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam. Hành vi cũng được coi là xảy ra tại Việt Nam nếu hành vi đó xảy ra trên mạng internet nhưng nhằm vào người tiêu dùng hoặc người dùng tin tại Việt Nam. Nếu hành vi này không xảy ra tại Việt Nam thì pháp luật Việt Nam không thể điều chỉnh.

Nguyên tắc này phù hợp với nguyên tắc lãnh thổ trong tư pháp quốc tế về SHTT, do pháp luật các nước có quy định khác nhau, không thể áp dụng luật quốc gia này để xem xét hành vi xảy ra trên lãnh thổ quốc gia khác. Bởi lĩnh vực SHTT là một lĩnh vực khá phức tạp, đòi hỏi phải được xem xét một cách chính xác và phù hợp nhất.

SHTT là một lĩnh vực khá phức tạp

Thời đại internet các đối tượng dễ dàng thực hiện hành vi xâm phạm quyền Sở Hữu Trí Tuệ

Xác định đúng hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là điều kiện tiên quyết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân, tổ chức và xử lý vi phạm một cách hiệu quả. Nếu bạn đang gặp vướng mắc trong việc xác định hoặc xử lý hành vi xâm phạm, hãy liên hệ với đội ngũ luật sư chuyên sâu về SHTT để được hỗ trợ kịp thời và chính xác.

Công ty Luật Tri Ân là công ty luật tại Việt Nam với nhiều năm kinh nghiệm trong việc cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý. Để tìm hiểu thêm về dịch vụ của chúng tôi hoặc liên hệ với đội ngũ luật sư, vui lòng truy cập trang Công Ty Luật Tri Ân hoặc gửi email đến: tranquan@luattrian.com 

CÔNG TY LUẬT TNHH TRI ÂN

MST: 3602909782

Địa chỉ: Tầng 7, Toà nhà Tinnghia Plaza, 224 Hà Huy Giáp, P. Trấn Biên, Đồng Nai

Số điện thoại: 0898917927

Email: tranquan@luattrian.com 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *